Giá vốn bán hàng là gì? Cách tính giá vốn bán hàng

0
5

Trong kinh doanh sẽ có rất nhiều người còn thắc mắc chưa biết giá vốn bán hàng là gì? cách tính giá vốn bán hàng như thế nào? Giá vốn bán hàng có vai trò gì… tất cả những thắc mắc liên quan đến giá vốn bán hàng đều sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây.

1. Giá vốn bán hàng là gì?

Giá vốn bán hàng là giá trị vốn của hàng bán đã tiêu thụ trong một khoảng thời gian nhất định. Số tiền này bao gồm chi phí của các vật liệu được sử dụng để tạo ra hàng hóa cùng với chi phí lao động trực tiếp được sử dụng để sản xuất hàng hóa. Nó không bao gồm các chi phí gián tiếp, chẳng hạn như chi phí phân phối và chi phí lực lượng bán hàng. Giá vốn hàng bán cũng được gọi là “chi phí bán hàng”.

2. Công thức và tính toán giá vốn hàng bán

COGS = Bắt đầu kiểm kê + P – Kết thúc hàng tồn kho

Trong đó:

  • COGS: Giá vốn bán hàng (Costs Of Goods Sold)
  • P: Mua trong giai đoạn nhất định

Hàng tồn kho được bán xuất hiện trong báo cáo thu nhập trong mục COGS. Hàng tồn kho đầu năm là hàng tồn kho còn lại từ năm trước, tức là hàng hóa không được bán trong năm trước. Bất kỳ sản phẩm mua thêm nào được thực hiện bởi một công ty sản xuất hoặc bán lẻ đều được thêm vào hàng tồn kho ban đầu. Vào cuối năm, các sản phẩm không được bán được trừ vào tổng hàng tồn kho bắt đầu và mua thêm. Con số cuối cùng có được từ tính toán là giá vốn hàng bán trong năm.

Giá vốn bán hàng chỉ áp dụng cho những chi phí liên quan trực tiếp đến sản xuất hàng hóa dự định bán.

Bảng cân đối kế toán có một tài khoản gọi là tài khoản tài sản hiện tại. Dưới tài khoản này là một mục được gọi là hàng tồn kho. Bảng cân đối kế toán chỉ nắm bắt tình hình tài chính của một công ty vào cuối kỳ kế toán. Điều này có nghĩa là giá trị hàng tồn kho được ghi trong tài sản hiện tại là hàng tồn kho cuối cùng. Vì hàng tồn kho ban đầu là hàng tồn kho mà một công ty có trong kho vào đầu kỳ kế toán, điều đó có nghĩa là hàng tồn kho đầu tiên cũng là hàng tồn kho cuối cùng của công ty vào cuối kỳ kế toán trước đó.

3. Giá vốn bán hàng cho biết điều gì?

Giá vốn hàng bán là một số liệu quan trọng trên báo cáo tài chính vì nó được trừ vào doanh thu của công ty để xác định lợi nhuận gộp. Lợi nhuận gộp là thước đo lợi nhuận để đánh giá hiệu quả của một công ty trong việc quản lý lao động và vật tư trong quá trình sản xuất.

Bởi vì giá vốn là một chi phí kinh doanh (nó được ghi nhận là chi phí kinh doanh trên báo cáo thu nhập). Biết giá vốn hàng bán giúp các nhà phân tích, nhà đầu tư và nhà quản lý ước tính lợi nhuận của công ty. Nếu giá vốn hàng bán tăng, thu nhập ròng sẽ giảm. Trong khi phong trào này có lợi cho mục đích thuế thu nhập, doanh nghiệp sẽ có ít lợi nhuận hơn cho các cổ đông của mình. Do đó, các doanh nghiệp cố gắng giữ giá vốn hàng bán thấp để lãi ròng sẽ cao hơn.

Giá vốn hàng bán là chi phí mua hoặc sản xuất các sản phẩm mà công ty bán trong một khoảng thời gian, do đó, chi phí duy nhất trong biện pháp này là chi phí trực tiếp gắn liền với việc sản xuất sản phẩm, bao gồm cả chi phí lao động, vật liệu, và sản xuất trên cao.

Ví dụ, giá vốn hàng bán cho một nhà sản xuất ô tô sẽ bao gồm chi phí vật liệu cho các bộ phận tạo ra chiếc xe cộng với chi phí lao động được sử dụng để lắp ráp chiếc xe lại với nhau. Chi phí gửi xe đến đại lý và chi phí nhân công dùng để bán xe sẽ bị loại trừ.

Hơn nữa, chi phí phát sinh trên những chiếc xe không được bán trong năm sẽ không được tính vào khi tính toán giá vốn, cho dù chi phí là trực tiếp hay gián tiếp. Nói cách khác, giá vốn hàng bán bao gồm chi phí trực tiếp sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ được khách hàng mua trong năm.

4. Loại trừ từ khấu trừ giá vốn hàng bán

Nhiều công ty dịch vụ không có bất kỳ chi phí nào của hàng hóa được bán. Giá vốn hàng bán không được đề cập chi tiết trong các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP), nhưng giá vốn hàng bán được định nghĩa là chỉ chi phí của hàng tồn kho được bán trong một khoảng thời gian nhất định. Không chỉ các công ty dịch vụ không có hàng hóa để bán, mà các công ty dịch vụ thuần túy cũng không có hàng tồn kho. Nếu giá vốn hàng bán không được liệt kê trên báo cáo thu nhập, không có khoản khấu trừ nào có thể được áp dụng cho các chi phí đó.

Ví dụ về các công ty dịch vụ thuần túy bao gồm các công ty kế toán, văn phòng luật sư, thẩm định viên bất động sản, tư vấn kinh doanh, vũ công chuyên nghiệp,…. Mặc dù tất cả các ngành công nghiệp này có chi phí kinh doanh và thường chi tiền để cung cấp dịch vụ của họ, họ không liệt kê giá vốn hàng bán. Thay vào đó, họ có cái gọi là “chi phí dịch vụ”, không được tính vào khoản khấu trừ giá vốn hàng bán.

5. Chi phí doanh thu so với giá vốn hàng bán

Chi phí doanh thu tồn tại cho các dịch vụ hợp đồng đang diễn ra có thể bao gồm nguyên liệu thô, lao động trực tiếp, chi phí vận chuyển và hoa hồng trả cho nhân viên bán hàng. Tuy nhiên, những mặt hàng này không thể được coi là giá vốn hàng bán mà không có sản phẩm được sản xuất để bán. Ví dụ về “doanh nghiệp dịch vụ cá nhân” không tính toán giá vốn hàng bán trên báo cáo thu nhập của họ. Những người này bao gồm bác sĩ, luật sư, thợ mộc và họa sĩ.

Nhiều công ty dựa trên dịch vụ có một số sản phẩm để bán. Ví dụ, các hãng hàng không và khách sạn chủ yếu là nhà cung cấp dịch vụ như vận chuyển và lưu trú, nhưng họ cũng bán quà tặng, thực phẩm, đồ uống và các mặt hàng khác. Những mặt hàng này chắc chắn được coi là hàng hóa, và các công ty này chắc chắn có hàng tồn kho của hàng hóa đó. Cả hai ngành này đều có thể liệt kê giá vốn hàng bán trên báo cáo thu nhập của họ và yêu cầu họ cho các mục đích thuế.

6. Chi phí hoạt động so với giá vốn hàng bán

Cả chi phí hoạt động và giá vốn bán hàng đều là chi phí mà các công ty phải chịu khi điều hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, các chi phí được tách biệt trên báo cáo thu nhập. Không giống như giá vốn bán hàng, chi phí hoạt động (OPEX) là chi phí không liên quan trực tiếp đến sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ. Thông thường, SG & A (chi phí bán hàng và chi phí quản lý) được bao gồm trong chi phí hoạt động dưới dạng một chi tiết đơn hàng riêng biệt. Chi phí SG & A là chi phí không liên quan trực tiếp đến sản phẩm như chi phí trên không. Ví dụ về chi phí hoạt động bao gồm:

  • Thuê
  • Tiện ích
  • Văn phòng phẩm
  • Chi phí pháp lý
  • Bán hàng và marketing
  • Lương bổng
  • Chi phí bảo hiểm
  • Hạn chế của giá vốn hàng bán

Giá vốn có thể dễ dàng bị thao túng bởi kế toán. Nó có thể được thay đổi bởi:

  • Phân bổ để kiểm kê chi phí sản xuất cao hơn chi phí phát sinh
  • Giảm giá quá mức
  • Trả quá nhiều cho nhà cung cấp
  • Thay đổi số lượng hàng tồn kho trong kho vào cuối kỳ kế toán
  • Đánh giá quá mức hàng tồn kho trên tay
  • Không xóa hết hàng tồn kho quá hạn

Khi hàng tồn kho bị thổi phồng một cách giả tạo, giá vốn hàng bán sẽ được báo cáo dưới mức, do đó, sẽ dẫn đến cao hơn biên lợi nhuận gộp thực tế và thu nhập ròng tăng cao.

Các nhà đầu tư xem qua báo cáo tài chính của một công ty có thể phát hiện ra kế toán hàng tồn kho vô đạo đức bằng cách kiểm tra sự tích tụ hàng tồn kho, chẳng hạn như hàng tồn kho tăng nhanh hơn doanh thu hoặc tổng tài sản được báo cáo.

Hy vọng qua bài viết này độc giả sẽ hiểu được được Chi phí bán hàng là gì, cách tính và những vai trò của nó trong kinh doanh. 

opasrilanka.com